Người “giữ lửa” nghề dát vàng Kiêu Kỵ

179

Hơn 400 năm, cùng trải qua bao thăng trầm như nhiều làng nghề khác, có những lúc tưởng chừng cái tên làng nghề Kiêu Kỵ chỉ còn lưu lại trong sách sử. Nhưng nhờ tình yêu nghề, lòng tri ân với tổ tiên của một số nghệ nhân, Kiêu Kỵ đã trở thành một trong số ít những làng nghề truyền thống không chỉ giữ được bản sắc riêng mà còn mang lại thu nhập ổn định cho người lao động.

“Phá giặc uy linh lừng đất Bắc.

Dát vàng tinh xảo nức trời Nam”.

Hai câu thơ nói về làng nghề dát vàng Kiêu Kỵ, làng nghề duy nhất ở Việt Nam chuyên làm về dát vàng quỳ. Kiêu Kỵ thuộc đất Đông Ngàn, Kinh Bắc xưa nay thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. “Ông tổ của nghề dát vàng Kiêu Kỵ là Nguyễn Quý Trị, một tiến sĩ dưới đời vua Lê Cảnh Hưng (1740 – 1786). Ông sinh ra và lớn lên ở làng Hội Xuyên, xã Liễu Trai (thuộc tỉnh Hải Dương). Năm 1763, khi đang giữ chức Binh Bộ Tả Thị Lang – Hàn lâm Viện trực học sĩ, ông được vua cử đi sứ sang Trung Quốc. Ở đó, ông đã học được nghề làm vàng bạc để sơn thếp lên hoành phi, câu đối… Sau khi về nước, ông đã truyền nghề lại cho người dân trong làng.

Năm 1981, sau khi rời quân ngũ trở về quê hương, với “mác” bộ đội, ông Chung được các nghệ nhân trong làng ưu ái cho gia nhập vào đội dán quỳ ở làng, ông bén duyên với nghề vàng quỳ kể từ đó. Nhưng cùng với những đổi thay của đời sống, nghề làm vàng quỳ ngày càng mai một. Phần lớn dân trong làng chuyển sang làm nghề sản xuất đồ dùng bằng da và giả da. “Khó khăn nhất là những năm 1987-1990, trong làng chỉ còn lại vài ba nhà còn làm nghề vàng quỳ, các sản phẩm vàng quỳ cũng khó bán hơn”.

Năm 1993, làng nghề hồi sinh trở lại, nhu cầu sử dụng vàng quỳ ở các tỉnh dần dần tăng. Thay vì việc tôi phải đi khắp nơi “chào hàng” thì khách hàng đã chủ động tìm về Kiêu Kỵ. Nhiều người trong làng vì thế mà trở lại làm nghề. Sau một thời gian trầm lắng, những âm vang đập quỳ rộn rã trở lại. Không chỉ ở Kiêu Kỵ mà nhiều người dân làng bên cạnh thấy nghề này cho thu nhập khá nên đã tìm đến để xin học nghề.

Để nhiều người có cơ hội học được nghề hơn, ông Chung đã mày mò nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, giảm giá thành sản phẩm, thay nguyên liệu phụ trợ, máy móc hỗ trợ để giảm công đoạn sản xuất quỳ, từ hơn 40 công đoạn nay còn hơn 20 công đoạn.

Tuy nhiên, đến năm 1995, sau một thời gian phát triển rầm rộ, nghề vàng quỳ Kiêu Kỵ lại đứng trước một “biến cố” khác, đó là khủng hoảng thừa. Sản phẩm làm ra không tiêu thụ được vì cung vượt quá cầu. Một lần nữa ông Chung lại lặn lội đi khắp các làng nghề sơn son thếp vàng để tìm hướng tiêu thụ sản phẩm.

“Cũng may mắn nhờ chịu khó đi, chịu khó quan sát học hỏi mà tôi học được thêm nhiều kinh nghiệm làm nghề như làm sơn ta truyền thống, sơn son thếp vàng của các nghệ nhân kỳ cựu để phát triển nghề dát vàng, bạc quỳ Kiêu Kỵ sau này”, ông Chung tâm sự.

Ông Chung cho biết mình có hai người con trai, cả hai đều đang nối nghiệp cha viết tiếp những trang sách mới về tương lai cho nghề dát vàng Kiêu Kỵ. Ánh mắt ông sáng bừng khi ngắm nhìn thế một hệ trẻ đang tỉ mẩn, trau chuốt từng chút một để tạo ra các sản phẩm tinh xảo nhất. Một thế hệ trẻ kế nghiệp cha ông, đây có lẽ là món quà tinh thần, là trái ngọt mà một nghệ nhân với 37 năm gắn bó với nghề nhận được.

Dương Tường