BÀI HỌC VÀO ĐỜI

198

Ngày hòa bình lập lại, ba về lành lặn bình an như cầu mong của nội. Cha con gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi ngỡ như chiêm bao. Rồi niềm vui nối tiếp niềm vui, ba xin nội tác hợp cho ba với cô giao liên đã hết lòng săn sóc ba những ngày bị thương ở chiến trường. Tình yêu giữa hai người chớm nở và lớn dần theo thời gian cùng những chia bùi sẻ ngọt trong làn mưa bom bão đạn. Hạnh phúc riêng hòa vào niềm vui chung của dân tộc giữa chiến thắng huy hoàng mùa xuân năm bảy lăm.

Mấy cơn mưa cuối mùa còn sót lại, cứ mãi rỉ rả nơi xóm nghèo của ông cháu Nhân. Mưa trôi tuột từ mái nhà lộp độp xuống mấy tàu lá chuối bên cạnh, chảy tràn xuống bờ kinh nhỏ, hòa vào tiếng ộp oạp của ếch nhái kêu vang cả buổi chiều. Cụm hoa ô môi tím sau nhà rụng rơi tơi tả cũng bị nước cuốn đi. Cảnh buồn đứt ruột. Những lúc thế này, Nhân nghe tiếng chặc lưỡi tiếc hùi hụi của nội “Lại một ngày không mần mụn được gì ở ngoài đồng”. Nói thì nói vậy chớ nội lôi “đồ nghề” ra hàng ba, ngồi tẩn mẩn chuốt từng nan tre để đươn thúng, đươn rổ hay lờ lợp. Những món tiền nội chắt chiu đã kéo dài hành trình đến trường của Nhân. Cái dáng gầy còm của nội liêu xiêu trước thời gian, nhưng đủ rắn rỏi và dẻo dai để biến giấc mơ của Nhân thành sự thật. Giờ đây, đám học trò trong xóm mới có thêm “ông giáo Nhân” đó chớ.

Cái hôm hay tin Nhân đậu đại học, nội mừng khôn xiết. Gặp ai nội cũng rôm rả về đứa cháu côi cút mà hiếu học, mà giỏi dang của nội hết. Nội vừa đốt nhang cho ba vừa nói: “Nghĩa à! Thằng Nhân đậu đại học rồi đa! Tía mừng rơn. Thiệt con hơn cha là nhà có phúc. Hồi đó bây cũng ao ước được mần ông giáo làng, nhưng đất nước còn ngập trong khói lửa đành gác lại. Rồi bây ra trận, thấy tía lo lắng bây bảo: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm tía ơi!”. Tao chỉ còn biết cười mà nước mắt ngập lòng lênh láng như lũ tràn đồng. Ờ… tía mừng khi thấy bây còn nhỏ mà biết nghĩ cho dân cho nước. Nhưng tía lo liệu bây có về với tía hay cũng nằm lại chiến trường như thằng Hai, thằng Ba, thằng Tư anh của bây? Độ rày vết thương cũ cứ trở chứng hành hạ tía, còn mấy cơn suyễn kéo đến như chặn đứng cái ống thở. Hổng biết tao còn sống bao lâu… Sắp tới thằng Nhân lại đi học xa, cần nhiều thứ hơn… Tía lo quá! Tội nghiệp thằng nhỏ, y chang bây. Hồi nhỏ nó khoái bì bõm chạy theo ông nội sau mấy trận mưa để bắt cá, bắt cua; mùa lũ về cũng nằng nặc bảo: “Con bơi xuồng tiếp ông nội cho nhanh”, rồi hì hụi theo tao kéo lưới, đặt lờ. Ờ… nghĩ lại thời gian trôi nhanh thiệt, mới chớp mắt cái đã hai mươi mấy năm. Bây có linh thiêng phù hộ cho thằng Nhân mạnh giỏi, ăn học nên người. Tía còn sống ngày nào thì ráng lo cho nó ngày ấy”.

Nép mình sau cánh cửa buồng, Nhân kéo vội vạt áo để chùi mấy giọt nước trong trong mằn mặn đang chảy xuống cằm. Nhân sợ nội thấy lại bảo: “Trai tráng gì mau nước mắt vậy bây?”

***

Ở trong bếp, Nhân vừa nhổ lông con vịt xiêm to ú ù vừa nói vọng ra nhà trước: “Nội ơi! Con vịt này to quá xá”. “Ờ… nội nuôi nó cũng hơn nửa năm rồi đó, làm nhanh lên đi con trời sắp tối rồi”. “Dạ”.

Trời chập choạng tối, Nhân dọn cơm lên. Ngày giỗ ba Nhân nên bữa cơm tinh tươm hơn thường ngày của hai ông cháu. Nội vừa dọn lại bàn thờ ba vừa bảo khẽ: “Đặt xuống đây rồi thắp nhang cho ba con đi”. Khói nhang trầm trầm lan tỏa trong gian nhà nhỏ, Nhân thấy lòng chùng xuống tận đáy cảm xúc. Từ nhỏ đến lớn, Nhân chỉ biết ba qua tấm ảnh thờ đen trắng, ba nhìn Nhân với nụ cười âu yếm. Nhân nghe nội kể nhiều về ba, ba Nhân là một chiến sĩ anh dũng. Hồi nhỏ, Nhân thường đem những chiến công hiển hách của ba ra để hù tụi nhóc trong xóm mỗi khi bị bắt nạt. Lớn lên, những câu chuyện về ba càng tiếp thêm nhiều nghị lực và niềm tin để Nhân chọn nghề giáo cao quý nhưng rất đỗi chông chênh này. Nhân thầm thì bên bàn thờ của ba: “Dạo này nội yếu lắm ba à! Ba linh thiêng phù hộ nội mạnh khỏe…”

Nội Nhân ra cái bàn tròn quen thuộc thường hay ngồi uống trà. Rót chén trà quá nửa, nội kéo ghế ngồi. Đôi mắt trũng sâu vì đau khổ vì thương nhớ của một đời người đâu dễ xóa nhòa theo thời gian. Đôi mắt ấy nhìn xoáy vào màn đêm đang buông thỏng giữa làn mưa mỏng. Ông trầm ngâm uống chén trà đánh chà một cái theo tiếng thở dài thườn thượt, bộn bề trong mớ suy nghĩ…

Thắp nhang cho ba xong, Nhân quay lại thấy mấy hột mưa cồm cộm trong đôi mắt già nua của nội. Hổm rày trời hay mưa đêm. Nghe nội kể lúc ba Nhân đi bộ đội cũng cỡ này. Lúc ấy ngoài chiến trường ác liệt lắm cơm nắm cũng không đủ để no lòng. Vậy mà ba và các bác các chú ai cũng quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh. Đôi lúc hành quân ngang nhà, ba có tạt qua thăm một chút rồi lại lên đường. Nhìn ba bị sốt rét rừng hành hạ nội xót xa từng chặp từng chặp mà cũng cố cười bảo ráng lên nghen con. Có một bận từ chiến trường tin đưa về, ba bị thương nặng hổng rõ sống chết ra sao. Ông nội trông đứng trông ngồi châm hết bình trà này đến bình trà khác chỉ mong mấy tin sau ba bình an. Còn bà nội phần vì thương nhớ con phần vì bệnh tim quái ác đã khiến bà không kịp chờ nhìn mặt ba Nhân mà ra đi vĩnh viễn.

Ngày hòa bình lập lại, ba về lành lặn bình an như cầu mong của nội. Cha con gặp lại mừng mừng tủi tủi ngỡ như chiêm bao. Rồi niềm vui nối tiếp niềm vui, ba xin nội tác hợp cho ba với cô giao liên đã hết lòng săn sóc ba những ngày bị thương ở chiến trường. Tình yêu giữa hai người chớm nở và lớn dần theo thời gian cùng những chia bùi sẻ ngọt giữa làn mưa bom bão đạn. Hạnh phúc riêng hòa vào niềm vui chung của dân tộc giữa chiến thắng huy hoàng mùa xuân năm bảy lăm.

Hạnh phúc bình dị chưa được bao lâu thì ba xung phong sang nước bạn chống lại bọn diệt chủng tàn ác. Ngày qua tháng lại, Nhân ra đời. Nếu lúc ấy có đủ lớn để nghĩ như bây giờ, chắc Nhân không muốn mình có mặt trên cõi đời này. Mẹ Nhân mất vì sinh khó. Mỗi lần nghe câu hát:

“Ầu ơ…con tôi khát sữa bú tay

Ai cho bú thép…ầu ơ..ai cho con bú thép ngày rày mang ơn”

Nhân thấy mắt mình đỏ hoe, sống mũi cay cay vì thương nội và nhớ mẹ. Lúc ấy nội đã đi hết đầu trên xóm dưới để xin cho Nhân bú thép. Nhân ứa nước mắt khi nghe bà Chín ở cạnh nhà kể lại chuyện này. Còn bé nhưng Nhân cũng hiểu chuyện nên bú thép vậy chớ Nhân mau lớn mà chẳng ốm đau gì. Ngày Nhân vào lớp một, Nhân thấy mắt nội đỏ ngầu như những lúc Nhân bị tụi thằng Rẫy, thằng Trạch giựt ổ bánh mì hay mấy viên bi to bóng. Nhân không dám chạy ùa vào lòng nội mà khoe: “Nội ơi! Hôm nay con làm Toán được mười điểm cao nhất lớp lận đó” như thường ngày. Nhân chỉ lẳng lặng chạy ra sau nhà ném đất bộp bộp xuống kinh. Lúc ấy Nhân đâu biết nội vừa hay tin ba đã anh dũng hy sinh còn thân xác mãi nằm lại chiến trường. Thời gian thấm thoắt trôi nhanh ông nội và Nhân sống lây lất tới giờ.

Bình trà của nội đã vơi quá nửa, Nhân vội vào bếp châm thêm. Rót đầy chén trà cho nội, Nhân nhấc ghế ngồi cạnh nội. Nhìn bàn tay gầy guộc của nội Nhân thấy thương nội quá chừng. Nội hỏi:

– Chừng nào đi dạy Nhân?

– Sắp rồi nội, ít bữa con nhận quyết định rồi đi dạy luôn.

– Ráng nghen con! Ba má mầy thấy mầy vầy chắc mừng lắm.

– Da. Từ nay con không để nội chịu khổ nữa đâu.

– Cha bây, cái thằng chỉ khéo nịnh.

– Con nói thiệt mà nội. Nội à! Con giăng mùng rồi đó nội đi nghỉ sớm.- Ờ. Con coi cũng đi ngủ đi. Ngày mai ra trồng lại mấy giồng khoai với nội. Trời mưa vầy chắc nó tróc lên hết rồi.

– Dạ.

Mưa rơi lác đác rồi tạnh hẳn. Mảnh trăng leo lét chơi vơi treo giữa bầu trời xám đục. Tiếng ếch nhái lại kêu ầm ĩ xáo động cả không gian tĩnh mịch. Đưa tay phủi lớp bụi mờ ở mấy tấm bằng Tổ Quốc ghi công của ba, Nhân thầm thì: “Ba ơi! Bài giảng đầu tiên của con dành cho học trò sẽ là bài học về truyền thống yêu nước vẻ vang, hào hùng của dân tộc. Có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc như ngày hôm nay, chúng ta phải đổi bằng xương máu, bằng nước mắt của bao lớp người. Con tin là học trò mình sẽ thích thú với bài học vào đời này”.

Bởi Ngọc Nho